“Hiếu điếc” và câu chuyện bịt hầm bắt tướng Đờ Cát

  • NamMV
  • Thứ Ba - 09/07/2013 00:00
  • 1672 views

Cầm cây súng trên tay tiến về phía De Castries (Đờ Cát), bất ngờ Đờ Cát vội đứng phắt dậy trên chiếc ghế mà ông ta đang ngồi, giơ tay ra định bắt tay chào hỏi. Lúc đó, tôi nhanh chóng chĩa nòng súng vào đầu ông ta. Vị bại tướng lùi lại hai bước, toàn thân run rẩy, miệng xổ ra một tràng tiếng Pháp "Xin các ông đừng bắn, tôi xin đầu hàng"...

Người chiến sỹ trẻ Đào Văn Hiếu cùng các cháu thiếu nhitại lễ kỉ niệm 10 năm ngày giải phóng Điện Biên Phủ 1954 - 1964

Người chiến sỹ trẻ Đào Văn Hiếu cùng các cháu thiếu nhi tại lễ kỉ niệm 10 năm ngày giải phóng Điện Biên Phủ 1954 - 1964

Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng hồi ức của người lính già Đào Văn Hiếu về trận đánh Điện Biên Phủ năm ấy và thời khắc định mệnh bịt hầm bắt sống tướng Đờ Cát vẫn như còn tươi nguyên và nóng hổi như mới vừa diễn ra.

Miếng cơm nhuốm máu, trộn bùn

"Hiếu điếc" (cụ Đặng Văn Hiếu - PV) là cách cái tên thân thương mà người dân địa phương thường gọi ông. Người mà tên tuổi của ông đã gắn liền với nhiều chiến công oai hùng trong lịch sử kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc. Nhưng điều đặc biệt hơn, ông là một trong năm người vinh dự nhận nhiệm vụ bắt sống tướng Đờ Cát trong trận Điện Biên Phủ lừng lẫy năm 1954, một nhân chứng sống của chiều 7/5 lịch sử ấy.

Cụ Hiếu năm nay đã ngoài "bát thập", tuy không còn khỏe mạnh và nhanh nhẹn như cách đây mấy năm về trước, nhưng giọng nói chắc nịch, điệu bộ dứt khoát, giường như vẫn còn nguyên chất lính. Trong căn nhà 3 gian cấp 4 nằm trong con ngõ hẻm thuộc thôn 8 (xã Nga Hưng, huyện Nga Sơn, Thanh Hóa), Chúng tôi vinh dự được được tiếp chuyện cùng cụ Hiếu.

Xuất thân từ một gia đình làm nông nghiệp vì nhà nghèo, không có điều kiện học lên, Năm 17 tuổi Đặng Văn Hiếu lên đường nhập và tham gia đội du kích tại Hói Đào, xã Tân Đức (nay là xã Nga Thanh và xã Nga Liên, huyện Nga Sơn, Thanh Hóa). Đến tháng 8/1950 tham gia nhập ngũ vào Trung đoàn 44 đóng tại Nông Cống, Thanh Hóa. Sau một năm huấn luyện thì được chuyển vào Đại đội 360, Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209 thuộc Đại đoàn 312. Tại đây, ông lần lượt tham gia các chiến dịch: Chiến dịch Hòa Bình (1952), chiến dịch Tây Bắc Lào lần 2 (1952), Chiến dịch Thượng Lào (1953) và Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954).

Những phần thưởng là những Huân, Huy chương mà Đảng và Nhà nước đã trao tặng ông

Những phần thưởng là những Huân, Huy chương mà Đảng và Nhà nước đã trao tặng ông

Không dấu diếm niềm tự hào khi là một trong số 5 người tham gia lãnh nhiệm vụ bắt tướng Đờ Cát, cụ Hiếu cố gượng đứng dậy lom khom bước đến bên cạnh chiếc tủ cũ kỹ lấy chiếc hộp vuông được cất kỹ. Vừa cầm chiếc hộp trên tay cụ vừa nói: "Những thứ này còn quý hơn nhiều tiền bạc đó, phải cất giữ cẩn thận sau này có chết đi thì con cháu chúng nó mới biết đến mình ngày xưa đã đánh bọn tàu như thế nào chứ các chú!", cụ Hiếu cười.

Mở chiếc hộp lấy cầm mẫu giấu giấy có ghi dòng chữ: Giấy chứng nhận đeo huy hiệu chiến sỹ Điện Biên Phủ", rồi đưa chúng tôi xem. Khuôn mặt cụ thẩn thờ lắng đọng đầy xúc cảm, đâu đó trong tâm thức ký ức về một thời lính chiến chợt hiện về, Cụ bắt đầu câu chuyện bằng giọng kể chậm rãi:" Còn nhớ 56 ngày đêm trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm đó, anh em lính tráng không tắm rửa, thức ăn chỉ có rau muống khô, măng khoai. Mấy chục ngày cơm vắt, muối lạc nhiều khi lẫn cả bùn đất, cả những bàn tay ứa máu bốc từng nắm cơm ăn nhưng mỗi khi anh nuôi cõng cơm lên trận địa, có chiến sĩ trong đơn vị ông đã thốt lên: Cơm chúng ta ăn có máu của đồng đội, có đất của Điện Biên, khi đó có khi cơm trộn bùn ăn vẫn thấy ngon.

Cụ Hiếu kể tiếp: "Ngày đó khi nhận được tờ giấy chứng nhận, ai nấy đầy vẻ tự hào vui mừng vì được công nhận là chiến sỹ đánh giặc giỏi. Nhưng cũng có những đồng đội tôi chưa kịp nhận nó thì đã mãi mãi nằm lại ở chiến trường".

Đời lính thật nhiều gian truân, nhưng càng trong mưa bom, bão đạn tinh thần anh bộ đội Cụ Hồ vẫn sáng bừng niềm tin và sức sống: "Đã là bộ đội là phải đánh giặc, đánh giặc là nhiệm vụ cao cả", cụ Hiếu rứt khoát.

"Có một bài ca không bao giờ quên"

Năm 1951 Đặng Văn Hiếu được cử về Đại đội 360, Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209 thuộc Đại đoàn 312. Sau chiến dịch 56 ngày đêm, Đại đội 360 do đại đội trưởng Tạ Quốc Luật trực tiếp chỉ huy đánh vào cứ điểm Him Lam và cứ điểm E1, D2, cứ điểm 505A, 506... Trận đánh đồi C2 của chiến dịch (ngày 4 và 5/5/1954). Vì chiến dịch diễn ra ác liệt nên cả ta và địch đều thương vong rất nhiều. Cụ Hiếu kể: "Ban đầu, đại đội tôi có 150 chiến sĩ, nhưng đến ngày 6/5 chỉ còn lại 34 chiến sĩ . Khi đó chúng tôi lại nhận được lệnh của bộ chỉ huy là phải nhanh chóng triệu quân đánh tiếp, nhiệm vụ của đơn vị là mở đường vây 209 đánh thẳng vào Mường Thanh, bắt sống tướng Đờ Cát lập công mừng sinh nhật Bác Hồ. Năm đó, đơn vị của chúng tôi nhận được lệnh đánh từ đêm mùng 6/5. Đánh ròng rã suốt đêm đến 8h sáng ngày 7/5 khi đó đơn vị tôi còn lại 5 anh em đó là Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật (quê ở Thái Bình), Nghĩa Lam (quê ở Nghệ An), Hoàng Đặng Vinh (quê ở Hải Hưng), Bùi Văn Nhỏ (quê ở Nghệ An) và ông - Đào Văn Hiếu (quê ở Thanh Hóa).

Đặng Văn Hiếu bình dị giữa đời thường

Đặng Văn Hiếu bình dị giữa đời thường

Theo một mạch cảm xúc ông lại kể cho chúng tôi nghe về 5 người may mắn sống sót: "Khi đến cầu Mường Thanh thì cả 5 người bị hỏa lực địch bắn trả quyết liệt ngay cầu không cho sang. Ngay sau đó, được sự hỗ trợ hỏa lực từ khẩu DKZ của quân ta, rất nhanh cả 5 người lọt sang qua cầu và tiến vào khu vực được coi là trung tâm đầu não của địch. Nhiệm vụ của 5 người lúc này là tìm và bắt sống tướng Đờ Cát. Lúc bấy giờ khói bụi mịt mù, chúng tôi chỉ thấy nhấp nhô hầm hào, lô cốt, không ai biết hầm Đờ Cát ở đâu. Đột nhiên từ ngách hào trước mặt, một tên lính dõng xuất hiện, giơ tay đầu hàng. Anh Luật quát: "Hầm Đờ Cát ở đâu?" Tên lính chỉ vào cái ụ đất cao được bao bọc bởi dây kẽm gai. Nhanh như cắt, chúng tôi nhanh chóng chạy tới nơi tên lính chỉ điểm. Phát hiện ra hầm có hai cửa. Anh Luật nhanh trí phân công Hiếu, Lam tấn công cửa phía Bắc, Luật, Vinh và Nhỏ tấn công cửa phía Nam bịt đường chạy của địch. Khi đó cả hai hướng đều tập trung tấn công và tiểu liên tiêu diệt hai ụ pháo ở hai đầu hầm, xông xuống chỗ tướng Đờ Cát và quân lính của hắn trú ngụ. Khi đó là khoảng 17h ngày 7/5/1954. Khi vào sau trong hầm, chúng tôi nhanh chóng chĩa nòng súng vào tốp địch dưới hầm, rồi anh Luật nói to và dõng dạc với đại ý là "bỏ súng xuống, giơ tay lên! Các ông thua rồi Khi đó tôi thấy một số sĩ quan Pháp đang đốt tài liệu, số thì ngồi trên ghế trước sơ đồ tác chiến, ai nấy đều run rẩy, bất ngờ, mặt tái mét.. anh Luật ra lệnh tôi vào áp giải tướng Đờ Cát. Theo lệnh Đại đội trưởng, tôi lăm lăm cây súng trên tay tiến về phía Đờ Cát. Khi tôi đến gần, Đờ Cát vội đứng phắt dậy trên chiếc ghế mà ông ta đang ngồi, giơ tay ra định bắt. Lúc đó, tay tôi nhanh chóng áp sát lại gần thúc mạnh khẩu súng vào bụng Đờ Cát. Vị bại tướng lùi lại hai bước, toàn thân run rẩy, miệng xổ ra một tràng tiếng Pháp. Thật tình, lúc đó tôi chả hiểu gì. Sau này, nghe anh Luật kể lại, lúc đó hắn nói: Xin các ông đừng bắn, tôi xin đầu hàng!. Sau đó, chúng tôi dẫn Đờ Cát và Bộ tham mưu của ông ta, 34 người, đến cầu Mường Thanh thì gặp quân ta đi vào. Chúng tôi bàn giao tù binh cho sư đoàn trưởng Thăng Bình rồi ôm lấy nhau hò reo chiến thắng.

Một kết có hậu

Năm 1975, khi kết thúc nghĩa vụ ông Hiếu Trở về quên hương mang trên mình với thương tật 61%. Trở về với đời thường ông Hiếu vẫn tích cực tham gia đóng góp vào các hoạt động công tác xã hội ở địa phương, (lúc làm Bí thư chị bộ thôn, rồi trưởng thôn đến hội cựu chiến binh...) nhưng trong sâu thẳm tâm thức của "người lính già" vẫn hy vọng một ngày được sum vầy cùng đồng đội năm xưa. Rồi mong muốn bấy lâu cũng đã đến với ông: "Tôi còn nhớ hôm đó là ngày 3/3/1999, qua phương tiện thông tin đại chúng anh Vinh (Hoàng Đăng Vinh, một trong số 5 người tham gia bắt tướng Đờ Cát – PV) nhắn tìm đồng chí Đào Văn Hiếu. Thông tin đó đến được với tôi khi hội cựu chiến binh huyện Nga Sơn đến thăm hỏi gia đình. Sau đó tôi chủ động liên lạc tìm gặp anh Hiếu. Niềm vui vỡ òa khi gặp nhau: chúng tôi đã khóc trong tiếng gọi: "Vinh lì, Hiếu điếc". 5 người lính ngày ấy đến bây giờ gặp lại chỉ còn tôi và anh Vinh. Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật và Bùi Văn Nhỏ đã không còn nữa. Còn về đồng chí Nguyễn Lam, chúng tôi vẫn chưa có thông tin gì!"

Năm nay đã 82 tuổi ông cùng người vợ già sống nương tựa vào nhau trong căn nhà nhỏ đơn sơ, vui vầy với đàn con cháu để sống hết những ngày tháng còn lại.

Đã gần 60 năm trôi qua, nhưng dấu ấn về trận chiến lịch sử đó vẫn còn yên hằn trong tâm trí người lính già như một dấu tích, một " nhân chứng sống" vĩ đại giữa đời thường. Có lẽ câu chuyện về "Hiếu điếc" và câu chuyện bịt hầm bắt tướng Đờ Cát sẽ sống mãi mãi trong tâm thức những người Việt Nam yêu nước.

(theo: baoxaydung.vn)

Những tin khác

Bình luận (0)

Chưa có bình luận!

Vui lòng Đăng nhập để gửi ý kiến của bạn!